Thuốc cường dương Viagra gây ra tác dụng phụ trên thị lực

Kể từ khi ra đời năm 1998, Viagra đã cách mạng hóa thị trường thuốc điều trị rối loạn cương dương. Thuốc được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt cực kỳ nhanh. Đi sau Viagra là hai thuốc được ra đời sau đó 5 năm: Levitra (Vardenafil) và Cialis (Tadalafil). Tuy nhiên, ngay từ khi bắt đầu, rối loạn thị giác đã được liệt kê trong danh sách các tác dụng phụ của các thuốc này. Mặc dù hầu hết các tác dụng phụ này là nhẹ và chỉ diễn ra tạm thời, một số có thể nghiêm trọng và lâu dài.

Thuốc Viagra gây ra các tác dụng trên thị lực

Thuốc Viagra gây ra các tác dụng trên mắt

Các thuốc điều trị rối loạn cương dương này ban đầu được sử dụng không liên tục trước khi quan hệ tình dục. Đó vẫn là vai trò chính của thuốc và vì có ít nhất 18 triệu người Mỹ bị rối loạn cương dương, đó thực sự là một vai trò quan trọng. Nhưng một số nam giới sử dụng thuốc điều trị rối loạn cương dương hàng ngày. FDA đã phê duyệt Tadalafil liều thấp hàng ngày cho rối loạn cương dương, và Sildenafil và Tadalafil với liều cao hơn hàng ngày cho bệnh tăng huyết áp động mạch phổi. Ngoài ra, nhiều bác sĩ tiết niệu đã kê đơn các thuốc này sau phẫu thuật cắt bỏ tiền liệt tuyến triệt để trong ung thư tuyến tiền liệt với hi vọng rằng chương trình “phục hồi dương vật” chưa được chứng minh này sẽ giúp phục hồi chức năng cương cứng sau phẫu thuật. Và nghiên cứu làm tăng khả năng những loại thuốc này một ngày nào đó có thể được sử dụng hàng ngày để điều trị các triệu chứng của tăng sản tuyến tiền liệt lành tính.

Sử dụng thuốc điều trị rối loạn cương dương hàng ngày có làm tăng nguy cơ rối loạn thị giác và các tác dụng phụ khác hay không? Một nghiên cứu giúp trả lời câu hỏi.

Viagra tác động trên emzym PDE

Sự cương cứng phụ thuộc vào lưu lượng máu tới dương vật. Chất trung gian hóa học quan trọng cho sự cương cứng là nitric oxide (NO). Chất này làm tăng lượng cGMP (GMP vòng) nội bào, qua đó làm giãn cơ trơn động mạch dương vật, khiến chúng mở rộng và tiếp nhận nhiều máu hơn.

NO rất quan trọng với sự cương cứng bình thường, nhưng nó không hoạt động một mình. Tham gia vào sự cương cứng còn có một enzyme khác có tên phosphodiesterase type 5 (PDE-5), enzyme này phá vỡ cGMP và làm giảm sự cương cứng.

Trong trường hợp bình thường, dương vật tạo ra đủ cGMP để tạo ra sự cương cứng và đủ PDE-5 để kết thúc sự cương cứng khi xuất tinh hoàn tất. Nhưng ở nhiều nam giới bị rối loạn cương dương, hệ thống phức tạp này mất cân bằng và các thuốc điều trị rối loạn cương dương đã nói ở trên sẽ đưa mọi thứ trở về đúng trật tự của nó. Tất cả chúng đều ức chế PDE-5, làm tăng nguồn cung cGMP. Trong khoảng 70% nam giới bị rối loạn cương dương, lượng cGMP tăng thêm sẽ cho phép sự cương cứng bền vững hơn để phát triển đáp ứng với kích thích tình dục.

Rối loạn cương dương

Trong rối loạn cương dương, thuốc thường an toàn và dung nạp tốt. Trong một vài trường hợp, chúng có thể tạo ra sự cương cứng kéo dài (priapism) vì có ảnh hưởng quá mức đến các động mạch dương vật. Và đôi khi chúng có thể gây hạ huyết áp bằng cách giãn các động mạch ở nơi khác trong cơ thể. Đó là lý do tại sao những nam giới sử dụng bất kỳ loại thuốc nitrates hữu cơ nào không được phép sử dụng thuốc ức chế PDE-5 và tại sao những người đàn ông sử dụng thuốc chẹn α cho tăng sản tuyến tiền liệt lành tính phải hết sức thận trọng. Và mặc dù các thuốc này thường an toàn cho tim, nhưng nam giới bị đau tim hoặc đột quỵ gần đây, tăng huyết áp không kiểm soát được hoặc đau thắt ngực không ổn định cũng không nên dùng chúng.

Các tác dụng phụ phổ biến hơn nhưng ít nghiêm trọng hơn của các thuốc trên cũng có thể liên quan đến động mạch. Đỏ bừng mặt, đau đầu và sung huyết mũi đứng đầu danh sách. Các phản ứng bất lợi khác bao gồm đau lưng, đau cơ, khó tiêu và phát ban. Đây đều là những triệu chứng tạm thời, nhưng mất thính lực đột ngột, mặc dù hiếm gặp, có thể là vĩnh viễn.

Nguồn: https://viagra.edu.vn/